Trên thực tế, "Chương trình nước sạch nông thôn giai đoạn 2003-2010", đề án cấp quốc gia tại Hải Phòng chưa bao giờ bị quên lãng, chỉ có điều, đó là những bước âm thầm, chậm rãi trên lộ trình riêng đã được vạch ra. Ngay từ khi triển khai chương trình, Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn (NSH-VSMTNT) đã tư vấn các địa phương thực hiện mô hình xã hội hóa công tác cung cấp nước sạch bằng cách kêu gọi, vận động các tập thể, cá nhân bỏ vốn đầu tư các công trình cung cấp nước sạch... Bằng cách này, ở một vài địa phương cũng đã có được những kết quả bước đầu. Điển hình như tại An Lão, công ty TNHH Trang Anh đã đầu tư 520 triệu đồng xây dựng nhà máy và lắp đặt đường ống nước đến từng hộ dân. Hay tại một số địa phương khác, chính quyền cơ sở đứng ra vận động người con xa quê hương có điều kiện, các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân hoặc tập thể đầu tư góp vốn đối ứng trước rồi thu hồi của từng hộ dân sau. Tuy nhiên, những mô hình nói trên có quy mô nhỏ, chỉ đủ cung cấp theo từng xóm, thôn và một vùng trong xã và không phải nơi nào cũng làm được.
Qua triển khai thực hiện cho thấy "Chương trình nước sạch nông thôn" đang đứng trước hàng loạt khó khăn. Khó khăn trước nhất vẫn là nguồn vốn và hình thức đầu tư các công trình cung cấp nước sạch. Theo số liệu thống kê, từ năm 2001 đến nay, bình quân mỗi năm ngân sách thành phố đầu tư cho chương trình khoảng 2,5-3 tỷ đồng. Số kinh phí này là quá ít ỏi so với nhu cầu, chỉ đủ xây dựng 7-8 hệ thống cấp nước tập trung quy mô nhỏ. Cũng có một số công trình mặc dù đã chuẩn bị được nguồn vốn, nhưng chủ yếu là để xây dựng các hạng mục chính mà chưa tính đến khoản chi phí đền bù giải phóng mặt bằng. Ngoài ra, đối với một số công trình nước sạch nông thôn theo mô hình xã hội hóa thì các chủ đầu tư hiện cũng đang lâm vào tình trạng thu không đủ chi, người dân lúc đầu hài lòng vì đã có nước sạch để dùng, nhưng sau đó là lần khất không thanh toán tiền nước vì cho là quá cao so với giá nước cấp cho người dân nội thành. Chính điều này dẫn đến tình trạng các nhà máy nước tư nhân bị nợ khê đọng và không thể duy trì hoạt động.
Tính đến thời điểm này, tổng mức đầu tư cho các công trình cung cấp nước sạch nông thôn của thành phố trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010 đã lên đến hàng chục tỉ đồng. Song các doanh nghiệp, mô hình nước sạch xã hội hoá vẫn lúng túng, chưa hoạt động hiệu quả. Nhiều công trình xây xong bỏ không hoặc có đưa vào sử dụng thì nguồn nước mới chỉ đạt hợp vệ sinh, chưa đạt tiêu chuẩn nước sạch. Bởi vậy, chỉ khi thành phố giải quyết dứt điểm những khó khăn này, người dân khu vực nông thôn mới thoát khỏi nguy cơ khátttt nước sạchhhh./
Phúc Lập
|